Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Yếu tố ảnh hưởng tới FCR

Yếu tố ảnh hưởng tới FCR

Giá thức ăn gia súc ngày một gia tăng khiến các nông trại trên toàn thế giới gặp rất nhiều khó khăn. Các nông trại phải có các phương pháp khắc phục bằng cách thay đồi các loại cám. Thế nhưng việc thay đổi cám dẫn tới việc thay đổi phương pháp quản lý, dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh. Hơn thế nữa vấn đề thay đổi khiến cám và năng suất bị sụt giảm, dẫn đến số tiền tổn thất còn nhiều hơn tiền tiết kiệm do giảm chi phí cám.

1. Yếu tố ảnh hưởng tới FCR:

Yếu tố môi trường:
Thời tiết nóng: con người khi cảm thấy nóng sẽ bị chảy mồ hôi, gia tăng hô hấp nhằm điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Cho dù heo có gia tăng nhịp thở nhưng vì lớp mỡ dưới da quá dày nên heo không thể điều chỉnh nhiệt độ bằng cách thoát mồ hôi được . Chính vì lý do này mà khi nhiệt độ cơ thể tăng cao heo sẽ giảm lượng cám ăn vào.Ví dụ, nếu heo thịt trọng lượng 70kg thì nếu vượt qua 27,5 độ C mỗi một độ thì lượng cám ăn vào giảm 140g/ ngày, tăng trọng giảm 55g/ ngày. Đặc biệt không chỉ nhiệt độ mà độ ẩm cũng liên quan rất nhiều tới vấn đề này.

Thiết bị cung cấp thức ăn:
Các nông trại có nhiều thiếu sót trong việc quản lý cho ăn. Theo từng nông trại mà phương thức và biện pháp cho ăn cũng có nhiều sự khác biệt.
Gần đây có nhiều nông trại sử dụng các máng ăn dạng ướt. Loại này có những ưu điểm khác với các loại máng cho ăn dạng khô như sau:

- Giảm lãng phí cám và nước
- Cải thiện FCR.
- Giảm tải hệ thống xử lý chất thải
- Có thể ăn cám và nước nhiều trong thời gian ngắn.
- Số con ăn trên máng cao.
Chính vì những lý do như vậy nên máng dạng này loại tốt. Tuy nhiên có một số điểm cần chú ý nếu một máng cho 8~10 con ăn thì phù hợp nếu hơn thì dễ dẫn tới tình trạng không ăn đủ cám heo còi cọc.
Vị trí lắp đặt cũng rất quan trọng. Có trường hợp lắp ở góc tường hoặc cạnh hàng sắt mà góc quá hẹp khiến heo đưa dầu vào không được. Lắp quá xa có thể dẫn đến trường hợp điều chỉnh sai lượng cám và áp lực nước khiến cám bị hư. Vào mùa nóng nhu cầu về nước tăng cao có thể cho lắp thêm các núm uống bổ sung.
Mỗi nông trại phải nắm rõ đặc tính và thiết bị của máng ăn. Đặc biệt người quản lý phải quan tâm đến vấn đề này.

Thiết bị cấp nước:
Nước là nguồn năng lượng của sự sống. Lượng nước cần thiết tùy theo giai đoạn mà có sự chênh lệch nhưng thông thường tỷ lệ cám trên nước là 1: 2~3
Heo con theo mẹ có cần uống nước không ? Lượng nước heo con nhận từ sữa mẹ là không đủ vì vậy trong thời gian nái nuôi con mỗi ngày phải cung cấp cho nái 15~25 lit nước.
Mỗi nông trại lắp đặt các loại núm uống khác nhau. Tuy nhiên việc lắp đặt núm uống xong không phải là hết, mà quan trọng là heo có thể uống nước sạch và đầy đủ hay không?

Loại cám:
Có nhiều loại cám khác nhau. Cũng tương tự như máng ăn và núm uống ta cần hiểu rõ đặc tính từng loại để nâng cao hiệu qủa FCR.

Loại bột( mash):
Các loại bột từ bắp, lúa mạch, lúa miến nếu quá lớn thì ảnh hưởng tới FCR. Nhưng nếu quá nhỏ sẽ gây ảnh hưởng tới bao tử và tăng độ bụi trong trại, tác động xấu đến việc bài tiết.

Loại viên( pellet):
Khi gia công thành viên cần xử lý nhiệt để sát trùng và sát khuẩn. Ít phát sinh ra bụi hạn chế ảnh hưởng tới hô hấp. Theo một số tài liệu, so với cám bột loại này cải thiện FCR 10%. Tuy nhiên loại này cũng có khuyết điểm là do quá trình gia công viên nên chi phí đắt và do xử lý nhiệt nên vitamin và chất khoáng bị phá hủy. . Cần chú ý là giữa viên cám có hàm lượng nước cao nên ở trong môi trường ẩm dễ bị biến chất. . Kỹ thuật chế tạo máng ăn dạng này cần sự chính xác cao.

Loại viên mịn( crumble):
Hình dạng giống cám viên nhưng được lựa chọn từ những viên mịn. Vừa đạt hiệu quả vệ sinh, hiệu qủa hóa phù hợp cho heo con.

Loại bông tuyết ( flake):
Được xử lý qua chưng cất hơi nước hoặc không được ép qua hệ thống lăn. Cải thiện tăng trọng và tăng hiệu quả FCR.

Cho ăn dạng lỏng ( liquid feeding):
Cám và chất bổ sung được cung cấp dưới dạng lỏng . Nước và cám được cung cấp cùng một lúc qua ống dẫn. Đạt hiệu quả cao trong tăng trọng, lượng cám ăn vào, FCR. Phí đầu tư ban đầu có cao nhưng chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải được giảm xuống.

Dịch bệnh:
Là nguyên nhân gây ảnh hưởng nhiều nhất tới FCR. Dịch bệnh làm heo chết giảm năng suất sản xuất thịt. Chi phí cám chiếm gần 80% chi phí nuôi heo con và heo thịt. Heo thịt khi mắc bệnh ảnh hưởng rất lớn tới phí cám . Các loại bệnh để mắc thời kì nuôi thịt là mycoplasma, bệnh đường ruột, viêm phổi.
Phương pháp đối phó với dịch bệnh là vệ sinh chuồng trại, tiêu độc làm khô, duy trì an toàn sinh học, tiêm vacxin, điều trị bằng các chất kháng khuẩn có hiệu quả. Heo giống và hậu bị phải vệ sinh tiêu độc định kỳ phòng ngừa stress.

Quản lý:
Cám dùng cho heo con thường có giá cao. Hạn chế cho ăn một lần, nếu cho ăn nhiều lần sẽ phát huy hiệu quả.
Thời kì đổi cám sẽ ảnh hưởng tới FCR, ảnh hưởng tới khả năng tiêu hóa. Cần nắm rõ tình hình tăng trưởng của heo con và năng lực của nái.

2. Tính toán FCR:

FCR là chỉ số mang tính chất kinh tế. Tuy nhiên chúng ta có thể trả lời trực tiếp số tiền cám chúng ta hàng tháng hoặc hàng năm ngay tức thời không?
FCR nông trại trong năm= Tổng lượng cám nhập vào : tổng trọng lượng heo thịt xuất chuồng.
FCR heo thịt trong năm= (Tổng lượng cám nhập vào- số cám dùng cho heo giống): tổng trọng lượng heo thịt xuất chuồng.

Theo Pig & Pork

Quản lí vacxin dịch tả heo


Bảo quản trong tủ lạnh: Bảo quản trong nhiệt độ thích hợp từ 2~5 độ C
Đặt nhiệt kế có thể đo nhiệt độ cao  nhất và thấp nhất : kiểm tra sự thay đổi nhiệt độ .Chỉ sử dụng riêng cho bảo quản vacxin: cấm sử dụng mục đích gia dụng và cá nhân khác ( làm nhiệt độ bị thay đổi).Vệ sinh sát trùng định kì tủ lạnh nhằm duy trì trạng thái vô trùng  ( phòng chống lây nhiễm virut).

Kiểm tra hạn sử dụng
Sử dụng sản phẩm còn thời hạn sử dụng
Quản lý tiêm ngừa:
Tiêm bắp tại vùng cổ và mông heo
Heo con: tiêm lần 1 vào 40 ngày tuổi, lần 2 vào 60 ngày tuổi
Heo đực: mỗi năm tiêm trên 1 lần
Heo hậu bị: tiêm sau khi tuyển chọn hoặc nhập heo
Nái: tiêm sau khi cai sữa.
Ghi vào sổ vacxin trại.

Nái: một con sử dụng một mũi kim ( heo con chích theo nguyên tắc 1 con 1 mũi hoặc tùy theo tình hình nông trại một ô chuồng hoặc 10 con chích một kim tiêm).
Khi chích vacxin phải chích từ từ (cấm chích nhanh, cấm sử dụng ống chích tự động)

Tiêm lần 1 sử dụng vacin đơn cho heo, tiêm lần 2 sử dụng vacxin tổng hợp .
Để lượng kháng thể không xuống quá thấp vacxin chích lần 2 nên sử dụng vacxin tổng
hợp.
Phải cách ly heo bệnh, khi tiêm phải phân biệt giữa heo bệnh và heo bình thường.
Heo bệnh nhất định áp dụng nguyên tắc một con một mũi kim.
Trước khi cho bú sữa đầu nếu tiêm ngừa có thể làm lượng kháng thể giảm sút, nên khi được 60 ngày tuổi nên chích bổ sung ( áp dụng riêng cho trại nghi ngờ bị mắc bệnh)

Quản lý ống tiêm và kim tiêm
Chích lần 1 sử dụng ống kim 20, lần 2 sử dụng ống kim 18 ( nếu xài ống chích sử dụng 1 lần nên chọn mũi kiêm ngắn 1 inches.
Ống kim và kim tiêm sau khi sử dụng nên gom lại và xử lý

Vấn đề khác:
Khi di chuyển heo cần phải có giấy xác nhận tiêm chủng
Các trại gia công khi nhận heo từ trại chính phải yêu cầu giấy tiêm chủng và xác minh thời gian hiệu lực của vacxin.

Theo tạp chí heo

Bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo – PRRS

Bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo – PRRS
     Ở Việt Nam, bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome ) hay còn gọi là bệnh Tai Xanh đã được phát hiện vào năm 1997 trên đàn heo nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính). Đến năm 2007 theo thống kê của cục thú y bệnh xuất hiện ở cả 3 miền bắc, trung, nam và đến thời điểm hiện nay bệnh xuất hiện hầu hết tất cả các tỉnh của nước ta...
I. Đặc tính của bệnh
- Là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, có khả năng lây lan nhanh và chết cao.
- Heo mắc bệnh dễ nhiễm trùng kế phát các loại bệnh khác như: Tụ huyết trùng, Streptococcus suis (bệnh liên cầu khuẩn heo), Dịch tả heo, Phó thương hàn, Cúm heo…
- Gây ra hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp như: heo nái sẩy thai ở giai đoạn cuối, chết lưu thai; heo con chết non sau khi sinh, heo sau cai sữa và heo thịt bị viêm phổi.
  
II. Truyền nhiễm học
a) Lứa tuổi mắc bệnh: tất cả mọi lứa tuổi trên heo.
b) Chất chứa căn bệnh: dịch mũi, nước bọt, tinh dịch, phân, nước tiểu.
c) Đường truyền lây:
- Tiếp xúc giữa heo ốm và heo khỏe là đường truyền lây chính của bệnh nên bệnh có thể lây giữa các cá thể trong một đàn hay từ đàn này sang đàn khác (do heo bị bệnh được chuyển đàn, chuyển trại hoặc lây qua các dụng cụ chăn nuôi).
- Tinh dịch heo mang trùng cũng có khả năng nhiễm virus vì vậy bệnh có thể truyền qua đường sinh dục.
- Các chât bài tiết như phân, nước tiểu heo bệnh cũng có khả năng chứa virus.
d) Cơ chế sinh bệnh
      Yếu tố mở đường => virus xâm nhập vào cơ thể => nhân lên trong cơ thể => phá hủy các đại thực bào (các tế bào có tác dụng bắt và tiêu diệt các tác nhân gây bệnh) => suy yếu sức đề kháng của cơ thể => gây bệnh.
 
 
 
III. Triệu chứng:
Trên heo nái:
- Giai đoạn nái hậu bị và nái khô: chậm lên giống, tỉ lệ đậu thai thấp.
- Giai đoạn mang thai: thai khô, chết thai, sẩy tahi. Có thể lên đến 50% toàn đàn có hiện tượng thai khô, chết thai hoặc sẩy thai. Sau khi sẩy thai, nái bị suy nhược, gầy ốm.
- Một số nái có biểu hiện khó thở, sốt, kém ăn rồi sẩy thai, vùng tai tím.
- Đẻ chậm 2-4 ngày, lượng sữa giảm đáng kể.
 
 
Tím bầm ở vành tai heo nái
 
 
Heo nái gầy yếu không lên giống
 
 
Vùng da bụng heo nái xuất hiện các mảng đỏ
 
Bầm tím ở vùng da chân sau
 
Heo con sưng mắt
 
Trên heo con theo mẹ
- Giai đoạn mới nhiễm bệnh trong đàn, heo nái chưa có kháng thể chống bệnh, virus xâm nhập bào thai: 
      + Heo con mới sinh yếu, run, bú yếu rồi chết.
      + Một số trường hợp mắt heo con sưng phù, bỏ bú, tiêu chảy rồi chết. Những con còn sống thường chậm lớn, một số chết do viêm phổi cấp tính trong giai đoạn sau cai sữa.
- Các heo con sinh ra do không bị nhiễm virus giai đoạn bào thai, có kháng thể mẹ truyền nhờ bú sữa đầu nên khoẻ mạnh, nhưng sẽ nhiễm bệnh lúc 6-8 tuần do kháng thể mẹ truyền giảm và mầm bệnh đang lưu hành trong trại.
- Trong trại do mức kháng thể một số nái không cao, do đó một số heo con vẫn nhiễm virus lúc mang thai gây sẩy thai trên một số bầy, heo con yếu và chết vẫn cao hơn mức cho phép (trên 10%).
 
Trên heo con sau cai sữa và heo thịt
- Heo con thường nhiễm virus từ các heo bài trùng và phát bệnh sau 6 – 8 tuần tuổi do kháng thể mẹ truyền giảm.
- Virus tấn công phá vỡ đại thực bào, bạch cầu trong phế nang, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn phát triễn (Pasteurella, Bordetella, Haemophillus, Streptococcus, Actinobacillus) gây viêm phổi cấp.
- Bệnh viêm phổi sẽ trầm trọng hơn nếu không tiêm phòng Mycoplasma.
- Các triệu chứng thường gặp:
      + Sốt cao
      + Ho, thở bụng
      + Bỏ ăn
      + Chảy máu mũi hoặc không
      + Chết sau 1-2 ngày mắc bệnh
      + Các heo chữa khỏi đều chậm lớn
 
Heo có biểu hiện khó thở
 
Heo bệnh lăn ra chết
 
 
Những con còn sống vẫn tím tái do nhiễm bệnh
 
IV. Bệnh tích
- Da tím bầm ở vùng tai, chân, lưng và hông
 Phổi viêm, hoại tử và xuất huyết những mãnh to và cứng
 
Heo chết có da tím bầm
 
 
Phổi bị viêm do heo nhiễm PRRS
 
 
Phổi bị xuất huyết do heo nhiễm PRRS
   
V. Phòng bệnh
- Thường xuyên vệ sinh tiêu độc chuồng trại và môi trường xung quanh, phun thuốc sát trùng.
- Chăm sóc nuôi dưỡng tốt nhằm tăng sức đề kháng cho heo:
      + Bổ sung các thuốc trợ lực B-complex, Vitamin ADE, các chất điện giải như Elecholyte, Orezol... vào thức ăn , nước uống thường xuyên.
      + Nguồn thức ăn cung cấp cho heo phải đảm bảo đầy đủ dưỡng chất, thức ăn không bị ôi thiu, nhiễm độc tố nấm mốc.
      Trong số những chất dinh dưỡng cho động vật nuôi, nước là chất dinh dưỡng rẻ nhất nhưng lại quan trọng nhấtDo đó cầncung cấp cho heo nguồn nước phải sạch, thường xuyên kiểm tra định kỳ nguồn nước để tránh được tình trạng nhiễm khuẩn.
- Có thể dùng một số loại kháng sinh dạng bột định kỳ trộn vào thức ăn 2 lần/tháng, mỗi lần ăn liên tục 3-5 ngày (Tylosin, Colistin, Tetracyclin).
- Tiêm vaccine phòng bệnh tai xanh cho tất cả các loại heo, đồng thời tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine phòng bệnh Dịch Tả, Tụ Huyết Trùng, Đóng Dấu, Phó Thương Hàn để hạn chế bệnh kế phát. Tuy nhiên vaccine không ngăn ngừa được sự nhiễm bệnh, chỉ giúp giảm mức độ trầm trọng của bệnh. Trại nhiễm bệnh, vaccine có tác dụng giảm tỉ lệ sẩy thai, giảm tỉ lệ heo con chết giai đoạn theo mẹ thông qua việc nâng cao hàm lượng kháng thể trong máu heo nái và kháng thể mẹ truyền cho heo con.
- Không nhập heo bị bệnh, heo không rõ nguồn gốc hoặc heo mới nhập về phải nhốt riêng từ 10-15 ngày theo dõi nếu không có dấu hiệu của bệnh mới cho nhập đàn.
 
VI. Trị bệnh
 
Hình ảnh sát trùng chuồng trại
      Khi dịch bệnh xảy ra có rất nhiều việc phải làm, nếu không sắp xếp theo thứ tự thì việc điều trị bệnh không cao, thời gian trị bệnh sẽ kéo dài, chi phí cao… Do đó khi phát hiện trong trại có dấu hiệu của bệnh thì một số công việc chính cần thực hiện theo trình tự như sau:
- Tổ chức vệ sinh tiêu độc chuồng trại, môi trường xung quanh, rắc vôi bột, phun thuốc khử trùng. Việc này giúp giảm mầm bệnh trong chuồng và giảm độc lực của virus gây bệnh hạn chế được sự lây lan từ thú bệnh sang thú khỏe.
      + Sát trùng kỹ các xe ra vào trại, đề phòng nhiễm các bệnh kế phát.
      + Cần quản lý chặt chẽ công nhân làm việc trong trại, không cho lẫn lộn với công nhân khu vực khác đồng thời phải phun thuốc sát trùng trước khi vào trại.
      + Khi dịch bệnh xảy ra, nên sát trùng 2 - 3 lần mỗi tuần bằng các chất sát trùng thông thường nhưng tốt nhất nên sử dụng thuốc sát trùng có tên Vikon cho đến khi trại hết dịch bệnh.
- Cải thiện lại môi trường chuồng trại: xem trại có thông thoáng tốt không, có chất thải nhiều không, nền chuồng có bị ẩm ướt không... => cần làm cho môi trường của trại được tốt hơn khi đàn heo bị bệnh.
- Bệnh không có thuốc đặc trị nên cần dùng một số loại kháng sinh phòng lây lan và chống sự kế phát của các bệnh khác. Có thể dùng các loại kháng sinh như Tylosin, Tiamulin, hoặc Tetracycline, Colistin... tiêm hoặc trộn vào thức ăn cho đàn heo đang mắc bệnh.
      Tuy nhiên hiện nay trên thị trường có một loại thuốc với tên gọi Racxin điều trị các triệu chứng hô hấp do tai xanh gây ra hiệu quả cao nhưng giá rất đắt và không trị được trường hợp sẩy thai ở heo nái mang thai. Do đó người chăn nuôi cần phải cân nhắc trước khi sử dụng loại thuốc này.
 
Phòng Kỹ thuật ROVETCO

Quản lý việc cấp nước cho heo

Quản lý việc cấp nước cho heo
07-01-2014
Bookmark and Share
Để quản lý cấp nước cho heo thật chính xác cần phải hiểu được sinh lý của heo và cấp nước phù hợp với từng giai đoạn tăng trưởng.
1. Nước uống và tập quán sinh lý của heo.
Heo rất thích nước: Tổ tiên của heo là heo rừng chuyên sống vùng rừng núi nhưng chúng vẫn lựa chọn ở những nơi gần sông, suối và hồ nhỏ để sinh hoạt. Heo rừng có thói quen thải chất thải nơi ẩm ướt, ở khu vực có nước và vùng hạ nguồn. Sau khi heo tiêu tiểu thì chúng cần uống nước ở khu vực gần đó để có sức di chuyển. Chính vì vậy, từ thời xưa, heo luôn sinh sống ở khu vực có nước.
Heo sử dụng rất nhiều nước: Áp lực thẩm thấu nước tiểu của heo thấp hơn nhiều so với chó và mèo, tương đương với hải ly. Nước tiểu của heo thường có màu vàng nhạt và không nặng mùi. Độ thẩm thấu nước tiểu của heo con bằng gần nửa so với heo trưởng thành, chính vì vậy chúng cần lượng nước nhiều. Cho nên, khi bị tiêu chảy mất nước thì heo mẹ rất dễ bị chết.
Bảng 1: So sánh nồng độ nước tiểu của từng loài
Phân loại
Áp lực thẩm thấu nước tiểu tối đa
(mosm/kg nước)
Tỷ trọng
Heo choai400 - 500 
Hải ly550 
Heo lớn1.0801.012
Người1.3001.020
Động vật có vú dưới biển1.4001.023
Chó2.4001.025
Mèo 1.030
 1.032
Tỷ lệ nước trong cơ thể heo thay đổi theo từng thời kỳ phát triển:
Dù heo phát triển ở giai đoạn nào thì nước cũng đóng vai trò rất quan trọng. Heo cũng giống như người, nước chiếm phần lớn trong cơ thể heo. Tuy nhiên, theo từng giai đoạn phát triển mà tỷ lệ nước trong cơ thể có sự thay đổi. Tỷ lệ nước trong cơ thể heo có liên quan mật thiết tới tỷ lệ chất béo và tỷ lệ chất béo tăng dần theo ngày tuổi. Tỷ lệ nước trong cơ thể heo thời kỳ theo mẹ là 82%, nhưng đến 90kg thì tỷ lệ nước giảm xuống còn 53%. Chính vì vậy, tùy theo giai đoạn nuôi mà cần có các biện pháp cung cấp nước thích hợp.
Bảng 2 mô tả quá trình uống và sử dụng nước của heo. Nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc nhận các chất dinh dưỡng có trong cám.
Hệ thống cung cấp nước phải phù hợp với hàm của heo:
Như đã nói ở trên, heo là loài động vật sử dụng rất nhiều nước. Nước tiểu từ heo thông thể tái sử dụng lại đượcc. Trại heo phải tốn rất nhiều chi phí để xử lý các loại nước thải này. Để giảm chi phí xử lý nước, cần cải tiến các thiết bị cấp nước theo dạng núm uống. Hàm dưới của heo có dạng chiếc muỗng nên có thể ăn cùng lúc cám và nước. Vì vậy, các thiết bị cấp nước cần phải gắn thêm chén uống bên dưới để heo có thể uống dễ dàng. Đặc biệt là heo mới cai sữa, heo cần có thời gian để heo có thể uống dễ dàng. Đặc biệt là heo mới cai sữa, heo cần có thời gian để thích nghi với môi trường nuôi với hệ thống núm uống cấp nước.
Lượng nước cần thiết cho từng cá thể heo có sự khác biệt lớn:
Lượng nước cần thiết cho từng cá thể cũng có sự khác biệt lớn. Kết quả khảo sát ở chuồng ép trại mang thai cho thấy, heo uống ít nhất là 5 lần/ngày và heo uống nhiều nhất là 23 lần/ngày.
Quản lý lượng nước uống theo từng giai đoạn phát triển:
Heo con theo mẹ: Ở giai đoạn theo mẹ, lượng nước chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cơ thể heo con, nên thời gian nái nuôi con và lượng nước uống vào ảnh hưởng rất lớn tới tăng trọng ở thời gian sau đó.
Khuyến cáo nên dùng hệ thống cấp nước luôn có nước ở bên dưới (hình 1). Đa số các loại núm uống thường có cấu tạo khi heo con chạm hoặc cắn vào nước sẽ chảy, nhưng ở đây nên lắp loại cho nước rỉ ra một lượng nhỏ để heo con tò mò lại gần và có thể nhớ đây là chỗ cấp nước. Khi heo con chạm vào núm thấy nước chảy, chúng sẽ học được cách lấy nước. Sau một khoảng thời gian ngắn, chúng sẽ biết các uống và lượng cám ăn vào cũng như tăng trong sẽ tăng nhanh.
Heo con cai sữa: Trường hợp đối với heo con cai sữa thì lượng nước uống vào liên quan mật thiết tới lượng cám ăn vào. Thông thường cứ 10kg trọng lượng là heo cần 1 lít nước. Chuồng từ 10 - 12 con, ta có thể lắp đặt một chén uống. Trường hợp nuôi với bầy lớn, ta có thể lắp đặt các máng nước cho heo con uống dễ dàng và tự do. Những máng dạng này có thể thúc đẩy bản năng của heo là ăn theo bầy đàn (heo có thể vừa ăn cám vừa uống nước). Nếu núm uống có hình dạng khác với thời kỳ theo mẹ thì cần thời gian cho heo làm quen trong vòng ba ngày đầu, khi mới chuyển nên cho nước chảy nhỏ giọt.
Heo thịt: Điều quan trọng ở thời kỳ này là áp lực nước phải đạt trên 1,5l/phút. Trường hợp heo ăn dạng khô cũng nên lắp thêm núm uống.
Heo sinh sản: Nái mang thai và nái nuôi con cần núm uống có áp lực 1,5l/phút. Đặc biệt là nái nuôi con một ngày cần lên 20 lít nước. Nếu áp lực nước yếu và khi uống không thoải mái thì heo không thể uống đủ nước. Để tránh rỉ sét thì chất liệu núm uông nên làm bằng inox.
Các loại núm uống và vị trí lắp đặt:
Các loại núm uống: Nếu chia ra thì có dạng chén uống và dạng núm uống. Dạng chén uống thì phù hợp với heo hơn. Ta có thể so sánh giữa dạng chén uống và núm uống:
  • Giảm rơi vãi hơn 30 - 40% lượng nước.
  • Heo dễ nhớ nơi cung cấp nước hơn nên phát triển sẽ tốt hơn.
  • Loại có ốc điều chỉnh lượng nước bên ngoài dễ sử dụng hơn.
        
Vật liệu sử dụng cho hệ thống cấp nước uống:
So với người thì heo có khứu giác và vị giác phát triển hơn. Chính vì vậy, nếu sử dụng chén uống cần chú ý đến vấn đề nước dơ còn đọng lại. Vật liệu tốt nhất nên sử dụng là dạng thép không rỉ.
Vị trí lắp đặt hệ thống cấp nước uống:
Cho dù, ta lựa chọn núm uống tốt cỡ nào nhưng nếu vị trí lắp đặt không phù hợp thì cũng không mang lại hiệu quả tối đa (tham khảo bảng 3). Vị trí lắp núm uống nên gần máng ăn để heo phân biệt được khu vực ngủ và bài tiết. Vị trí lắp chén uống phù hợp để uống là dưới đầu một chút. Nếu lắp quá cao thì khi uống heo phải ngước lên sẽ khiến phát sinh việc lãng phí nước. Lắp đúng độ cao cũng tránh được tình trạng heo tiêu tiểu vô chén uống.
Bảng 3: Khuyến cáo số lượng và vị trí thiết bị cấp nước uống
Phân loạiLượng nước uống/ngàyÁp lực/phútĐộ cao chén uốngĐộ cao núm uống
Heo con theo mẹ0,2 - 0,7 l0,3 - 0,5 l5 - 7 cm10 - 15 cm
Heo con cai sữa1 - 4 l0,5 - 0,8 l10 - 12 cm35 - 45 cm
Heo 30 - 70 kg5 - 8 l0,8 - 1,2 l15 - 20 cm55 cm
Heo trên 70 kg8 - 10 l1,5 - 2,0 l20 - 25 cm70 cm
Heo mang thai và heo đực10 - 15 l1,5 - 2,0 l30 - 40 cm90 cm
Nái nuôi con15 l + 1,5 l x số heo con1,5 - 2,0 l30 - 40 cm90 cm
Nguồn: Tạp Chí Heo

PREBIOTIC TRONG CHĂN NUÔI

PREBIOTIC TRONG CHĂN NUÔI - Ts. CHẾ MINH TÙNG, KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, ĐH NÔNG LÂM TP.HCM
Bổ sung prebiotic trong thức ăn động vật đã được nghiên cứu từ rất lâu, với mục tiêu làm tăng số lượng vi sinh vật có lợi trong đường ruột. Các vi sinh vật có lợi sử dụng prebiotic như là một nguồn năng lượng cho sự sinh trưởng của chúng. Sự phát triển của vi sinh vật có lợi sẽ cản trở sự phát triển vi sinh vật có hại trong đường ruột và làm giảm hàm lượng các sản phẩm trao đổi chất gây hại, gây hôi thối trong ruột và phân. Trong nhiều thập kỷ qua, kháng sinh thường được bổ sung trong thức ăn để phòng bệnh và kích thích sinh trưởng của vật nuôi. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách đã và đang gây ra nhiều mối lo ngại về sự đề kháng thuốc cho vật nuôi và con người.  Kể từ khi prebiotic được sử dụng, việc cấm sử dụng kháng sinh hoặc giảm hàm lượng kháng sinh trong thức ăn đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày càng có nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy tác động có lợi của việc sử dụng prebiotic. Do đó sẽ có nhiều loại prebiotic tự nhiên và tổng hợp được sản xuất và bổ sung vào thức ăn trong tương lai.
1. Định nghĩa: Prebiotic được định nghĩa là một thành phần của thức ăn có các đặc điểm sau: (1) Không bị tiêu hóa bởi các enzym được tiết ra trong đường tiêu hóa của con vật và hầu như không bị biến đổi khi đến đoạn ruột già; (2) Kích thích có chọn lọc lên sự sinh trưởng và hoạt động của một hoặc một số lượng nhất định vi sinh vật có lợi như Lactobacilli, Bifidobacteria; (3) Tăng cường sức khỏe của con vật thông qua việc cải thiện hệ vi sinh vật ở kết tràng.
2. Phân loại prebiotic: Các prebiotic được sử dụng phổ biến trong sản phẩm thương mại bao gồm các fructan dạng inulin, fructooligosaccharide, galactooligosaccharide, isomaltooligosaccharide, xylooligosaccharide, lactulose, lactosucrose và oligosaccharide từ đậu nành (stachyose, raffinose) (Bảng 1).Các oligoaccharide này có thể được tìm thấy trong thức ăn tự nhiên hoặc có thể được tổng hợp bằng enzym từ đường đơn (glucose) hoặc đường đôi (sucrose và lactose). Phần lớn các oligosaccharide chứa 3 đến 9 phân tử đường, mặc dù có sự biến động lớn về số lượng các phân tử đường liên kết với nhau. Inulin có nguồn gốc từ rễ cây rau diếp xoăn chứa 2 đến 60 phân tử đường fructose, trong khi lactulose (một prebiotic tổng hợp) chỉ chứa đường galactose liên kết với fructose. Các phân tử đường trong oligosaccharide thường liên kết ở dạng β và do vậy chúng không bị thủy phân bởi các enzym tiêu hóa nội sinh (Hình 1).
Bảng 1.Các oligosaccharide được sử dụng phổ biến trong sản phẩm prebiotic
Oligosaccharide
Cấu trúc phân tử
Liên kết
Phương pháp sản xuất
Fructooligosaccharide/Inulin
(Fru)n-Glu
β-1,2
Thủy phân/Đường hóa
Galactooligosaccharide
(Gal)n-Glu
β-1,4; β-1,6
Thủy phân/Đường hóa
Isomaltooligosaccharide
(Glu)n
α-1,6
Thủy phân/Đường hóa
Xylooligosaccharide
(Xyl)n
β-1,4
Thủy phân
Lactulose
Gal-Fru
β-1,4
Đồng phân hóa
Lactosucrose
Gal-Glu-Fru
β-1,4
Đường hóa
Oligosaccharide từ đậu nành
(Gal)n-Glu-Fru
α-1,6
Chiết xuất
Ghi chú: Fru (fructose); Glu (glucose); Gal (galactose); Xyl (xylose).
 
  
Các oligosaccharide được sản xuất làm prebiotic thường không đồng nhất về chiều dài chuỗi, và do đó prebiotic cũng thường chứa một hỗn hợp các oligosaccharide với chiều dài chuỗi khác nhau. Điều này là do hiệu quả của enzym, cơ chất và công nghệ được sử dụng để sản xuất prebiotic. Việc sản xuất các oligosaccharide để làm prebiotic thường được thực hiện qua 3 phương pháp sau. (1) Chiết xuất trực tiếp các oligosaccharide tự nhiên từ thực vật; (2) Thủy phân các polysaccharide tự nhiên; (3) Tổng hợp bằng enzym thủy phân hoặc enzym thủy phân và kết nối các phân tử đường (có nguồn gốc từ thực vật hoặc vi sinh vật).
2.1. Inulin và fructooligosaccharide (FOS): Trong số các prebiotic, inulin và FOS là loại prebiotic phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất trong những nghiên cứu về prebiotic. Inulin là một fructan mạch thẳng của các phân tử đường fructose, chiều dài chuỗi dao động từ 2 đến 60 đơn vị đường fructose và có thể liên kết hoặc không liên kết với một phân tử đường glucose ở đầu chuỗi. Oligofructose cũng là một loại fructan, có chiều dài chuỗi từ 2 đến 9 đơn vị đường fructose. Oligofructose hiện diện ở một số loài thực vật trong tự nhiên, nhưng chúng cũng có thể được sản xuất từ sự thủy phân inulin bằng enzym. Về mặt hóa học, FOS và oligofructose là như nhau, cả 2 đều có 2 đến 9 phân tử đường fructose và do đó 2 danh từ này thường được sử dụng qua lại để chỉ cùng một chất. Về mặt ngữ nghĩa, FOS được dùng để chỉ những oligosaccharide được sản xuất thương mại ở qui mô lớn từ đường sucrose; trong khi đó, oligofructose được dùng để chỉ các phân tử được sản xuất tự nhiên từ inulin bằng enzym thủy phân. Inulin được tìm thấy trong tự nhiên ở một số loài thực vật như rễ rau diếp xoăn, atisô, măng tây, chuối, cây bồ công anh, lúa mạch đen, củ hành, tỏi, tỏi tây và lúa mì.  
2.2. Galactooligosaccharide (GOS)Đây cũng là một loại prebiotic được nghiên cứu nhiều, chiếm khoảng hơn 10% các nghiên cứu về prebiotic. Galactooligosaccharide được tạo ra từ đường lactose dưới sự xúc tác của enzym β-galactosidase. Enzym này có thể được ly trích từ thực vật (đào, mơ, hạnh nhân), động vật (ruột, não, mô da) và vi sinh vật (nấm men, vi khuẩn, nấm mốc). Enzym từ vi sinh vật thường cho hiệu quả cao hơn trong việc sản xuất GOS.
2.3. Isomaltooligosaccharide (IMO): Loại prebiotic này ít được nghiên cứu trên gia súc gia cầm. Nó được tạo thành từ những phân tử đường glucose nối với nhau bằng liên kết α-1,6. Sản phẩm IMO thương mại được sản xuất từ tinh bột bắp và chứa isomaltose, isomaltotriose và panose. Dưới sự xúc tác của 2 enzym α-amylase và pullulanase, tinh bột bị thủy phân thành IMO. Sau đó, α-glucosidase xúc tác việc chuyển đổi các liên kết α-1,4 trong IMO thành các liên kết α-1,6.
2.4. Xylooligosaccharide (XOS): XOS là những chuỗi oligosaccharide của các phân tử đường xylose nối với nhau bằng liên kết β-1,4. Các thành phần của XOS chủ yếu là xylobiose, xylotriose và xylotetraose. Trong tự nhiên, XOS được tìm thấy ở măng tre, trái cây, rau, sữa và mật ong. Sử dụng enzym thủy phân, XOS có thể được sản xuất từ xylan có trong gỗ cứng, cùi bắp, rơm, bã mía, vỏ trấu, mạch nha và cám.
2.5. Lactulose: Lactulose là một đường đôi tổng hợp nhân tạo bằng phương pháp đồng phân hóa lactose, chứa galactose và fructose. Lactulose thường không có ở dạng tự nhiên, nhưng một lượng rất nhỏ lactulose có thể được tìm thấy trong các sản phẩm sữa được xử lý nhiệt mà không cần sự xúc tác của enzym. 
2.6. Lactosucrose: Được tạo ra từ hỗn hợp đường lactose và sucrose dưới sự xúc tác của enzym β-fructosidase.
2.7. Stachyose and raffinose: Hai loại oligosaccharide này có nguồn gốc từ đậu nành, chiếm khoảng hơn 10% các nghiên cứu về prebiotic. Thú có thể được cho ăn stachyose và raffinose ở trạng thái nguyên vẹn trong hạt đậu nành hoặc ở dạng tinh chế.
3. Cơ chế tác động: Như đã được đề cập ở trên, việc bổ sung prebiotic vào thức ăn gia súc, gia cầm và thú cưng nhằm mục tiêu gia tăng số lượng vi sinh vật có lợi trong đường ruột của thú. Sự gia tăng này giúp tạo ra một môi trường đường ruột lành mạnh và cân bằng, dẫn đến tăng cường sức khỏe và năng suất vật nuôi. Những lợi ích của prebiotic đã được chứng minh khi chúng được bổ sung vào khẩu phần thức ăn của gia cầm, heo, chó và mèo, mặc dù hiệu quả của prebiotic không ổn định. Do vậy, prebiotic có thể được xem xét như là một trong những giải pháp dinh dưỡng tiềm năng để thay thế dần kháng sinh trong thức ăn, đặc biệt khi áp lực loại bỏ kháng sinh trong thức ăn ngày càng gia tăng. Dưới đây là một số cơ chế tác động của prebiotic và các cơ chế này cũng được tóm tắt trong Hình 2:  
3.1. Tăng sự bảo vệ của niêm mạc ruột qua việc kích thích sản xuất axit béo mạch ngắn: Prebiotic khi đến ruột già là nguồn cung cấp năng lượng cho sự sinh trưởng và hoạt động trao đổi chất của vi sinh vật có lợi. Hoạt động lên men của các vi sinh vật này làm tăng hàm lượng các axit béo mạch ngắn như acetic, propionic, butyric, v.v… Sau đó, các vi sinh vật khác có thể sử dụng những axit này cho hoạt động trao đổi chất của chúng, làm tăng thêm hàm lượng và sự đa dạng của các axit béo mạch ngắn trong đường ruột. Ví dụ, hàm lượng axit isobutyric, valeric, lactic và capronic trong ruột heo tăng lên khi cho heo ăn FOS hoặc GOS. Các axit béo mạch ngắn được sinh ra trong quá trình lên men của vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và sinh lý của mô ruột. Cụ thể, chúng đáp ứng khoảng 60 - 70% nhu cầu năng lượng của kết tràng. Khoảng 20 - 75% lượng axit acetic được hấp thu và phần lớn axit propionic đi đến gan, tham gia vào quá trình trao đổi chất chung của cơ thể. Axit butyric không những là nguồn cung năng lượng chính cho hoạt động của tế bào kết tràng mà nó còn điều tiết sự phân chia và biệt hóa các tế bào này. Chẳng hạn, bổ sung fructan cho heo làm tăng mật độ tế bào ruột, số lượng các tế bào biểu mô và tế bào hình ly (goblet) tiết chất nhày (mucin). Prebiotic cũng làm tăng chiều cao của nhung mao ruột và tăngtỷ số chiều cao nhung maoso với độ sâu mào ruột ở tất cả các loàiđược nghiên cứu. Điều này sẽ giúp tăng sự hấp thu các dưỡng chất. Bên cạnh những tác dụng vừa nêu, axit béo mạch ngắn còn giúp tăng cường đáp ứng miễn dịch. Những con chó săn được cho ăn FOS làm hàm lượng IgM trong sữa đầu, sữa thường và máu tăng lên đáng kể.  Khi công cường độc với Salmonella typhimurium, các tế bào ruột của chó ăn FOS hoặc inulin sẽ ít bị bong tróc và hoạt động hấp thu glucose vẫn được duy trì. Khi công cường độc vớiOesophagostonum dentatum, cho heo ăn inulin giúp số lượng giun và trứng giun trong ruột heo giảm đáng kể. Axit béo mạch ngắn, cụ thể là axit butyric, có ảnh hưởng đến hoạt động miễn dịch ở ruột hoặc toàn thân có lẽ là do các tế bào miễn dịch nằm ở các tổ chức lympho ruột có thể nhận biết axit béo mạch ngắn qua các thụ thể của chúng.
3.2. Cản trở mầm bệnh phát triển qua loại thải cạnh tranh và giảm pH: Prebiotic kích thích sự sinh trưởng của vi sinh vật có lợi. Những vi sinh vật có lợi này sẽ tranh giành dưỡng chất và các vị trí bám trên thành ruột với vi sinh vật có hại. Khi thiếu dưỡng chất và không thể cư trú ở thành ruột, sự sinh trưởng của vi sinh vật có hại bị hạn chế và chúng dần dần bị đào thải ra môi trường bên ngoài cùng với phân. Ngoài ra, pH ở ruột giảm thấp do các axit béo sinh ra từ quá trình lên men phân giải prebiotic cũng góp phần cản trở sự sinh trưởng của vi sinh vật gây hại. Đa số các nghiên cứu trên chó, mèo, heo và gia cầm đều cho thấy hàm lượng các vi sinh vật có hại giảm đáng kể khi cho thú ăn prebiotic. Ở gia cầm, bổ sung prebiotic trong thức ăn làm giảm số lượng vi sinh vật có hại trong phân như Clostridia, Salmonella, Staphylococci,Echerichia coli, coliform, v.v…Ở heo, prebiotic đã làm giảm số lượng vi sinh vật có hại trong ruột như Enterobacteria, Clostridia, coliform và Echerichia coli.  
3.3. Giảm các chất gây hại và gây thối bằng cách điều tiết sự trao đổi chất: Prebiotic dường như tạo ra sự điều hòa về trao đổi chất, giúp cho quá trình tiêu hóa diễn ra bình thường. Các nghiên cứu cho thấy prebiotic làm tăng dung khối và độ đặc ổn định của phân chủ yếu bằng cách gia tăng sinh khối của vi sinh vật trong phân. Sự tăng sinh khối này làm thời gian di chuyển của thức ăn qua kết tràng ngắn hơn. Sự tái hấp thu nước ở kết tràng giảm, phân trở nên mềm và nặng hơn, số lần thải phân nhiều hơn. Do đó, các chất gây hại, gây thối được sinh ra từ vi sinh vật có hại sẽ nhanh chống được bài thải ra ngoài, làm giảm nguy cơ viêm ruột. Quả thật, khi cho thú ăn prebiotic, lượng thức ăn ăn vào, tiêu hóa vật chất khô, tiêu hóa chất hữu cơ và tiêu hóa protein đều giảm; phần trăm vật chất khô trong phân giảm nhưng tổng khối lượng phân khô tăng. Ngoài ra, bổ sung prebiotic vào thức ăn cũng làm giảm hàm lượng axit béo có mạch nhánh, amonia, phenol và indol trong phân và trong ruột. Do vậy, khi hàm lượng các độc tố trong ruột giảm thì khả năng ruột bị viêm cũng giảm và điều này làm cho đường ruột của thú khỏe mạnh hơn.
Thông qua những cơ chế tác động trên, cho thú ăn prebiotic đã giúp cải thiện hệ sinh thái đường ruột. Prebiotic làm tăng vi sinh vật có lợi, giảm vi sinh vật có hại, tăng hàm lượng các axit béo mạch ngắn, tăng sự phân chia và biệt hóa tế bào ruột, tăng chiều cao nhung mao ruột, giảm pH đường ruột, giảm các chất gây độc và giảm mùi hôi, và điều hòa hoạt động trao đổi chất. Nuôi gia cầm và heo bằng thức ăn bổ sung prebiotic giúp tăng trọng nhanh hơn và có hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn, mặc dù những đáp ứng về năng suất có sự biến động lớn. Do vậy, tất cả những ảnh hưởng có lợi này cho thấy prebiotic là một giải pháp về dinh dưỡng tiềm năng, giúp tăng cường tổng thể sức khỏe và năng suất vật nuôi.
 
  
4. Cách sử dụng prebiotic: Khi sử dụng sản phẩm prebiotic, người chăn nuôi nên tuân thủ các hướng dẫn sử dụng sản phẩm của nhà sản xuất. Tuy nhiên để sử dụng các sản phẩm prebiotic có hiệu quả và phù hợp ở mỗi trại chăn nuôi, người chăn nuôi có thể xem xét một số các yếu tố sau:
4.1. Tuổi của thú: Hàm lượng prebiotic trong khẩu phần nên duy trì ở mức thấp đối với thú non và thú già vì prebiotic về bản chất cũng là một chất xơ và chúng có thể ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn. Thú non cần ăn khẩu phần dễ tiêu hóa để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và điều này rất quan trọng vì lợi nhuận trong chăn nuôi có được khi sự sinh trưởng và sức khỏe của thú đều ở mức tối ưu. Đối với thú già, khả năng tiêu hóa thức ăn có chiều hướng giảm khi thú tiến gần đến giai đoạn dễ mắc bệnh ở thời kỳ tuổi già. Bổ sung prebiotic vào thức ăn ở giai đoạn này sẽ làm giảm mật độ các dưỡng chất, có thể gây giảm khối lượng cơ và tạo ra các rắc rối về sức khỏe.
4.2. Tình trạng sức khỏe của thú: Những heo yếu ớt, nhạy cảm với mầm bệnh thì có đáp ứng rõ hơn với việc bổ sung prebiotic so với những heo khỏe mạnh. Khi tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh, gia cầm và heo đều có đáp ứng như nhau đối với việc bổ sung prebiotic. Mặc dù prebiotic vẫn đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh, chúng có lẽ không có tác dụng rõ ràng ở những thú khỏe mạnh. Tuy nhiên, sử dụng prebiotic ở liều phòng bệnh là cần thiết để tạo ra những thay đổi về môi trường và hệ vi sinh đường ruột, giúp tăng cường sức khỏe tổng thể của vật nuôi.
4.3 Phương thức nuôi: Hiệu quả của prebiotic sẽ khác nhau khi thú được nuôi theo những phương thức khác nhau. Đối với thú cưng nuôi trong nhà như chó và mèo, bổ sung prebiotic vào thức ăn ít khi tạo ra một sự thay đổi rõ rệt nếu thú khỏe mạnh. Tuy nhiên khi thú bệnh, tác dụng của prebiotic sẽ trở nên rõ ràng hơn. Gia cầm nuôi nền tiếp xúc thường xuyên với phân và mầm bệnh sẽ đáp ứng tốt hơn với prebiotic khi so với gia cầm nuôi lồng.
4.4. Luân phiên với kháng sinh: Nếu trại chăn nuôi vẫn bổ sung kháng sinh trong thức ăn, việc sử dụng kháng sinh và prebiotic nên được luân phiên. Kháng sinh không những tiêu diệt vi sinh vật có hại mà còn tiêu diệt cả vi sinh vật có lợi. Do vậy sau một thời gian sử dụng kháng sinh, prebiotic nên được bổ sung vào thức ăn để gia tăng hàm lượng vi khuẩn có lợi và tái cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột. Ngoài ra, sử dụng prebiotic luân phiên với kháng sinh cũng giúp ngăn ngừa tính đề kháng thuốc của vi sinh vật có hại.
4.5. Kết hợp với probiotic: Các sản phẩm probiotic sẽ cung cấp vi sinh vật có lợi cho thú. Khi cho thú ăn probiotic và prebiotic sẽ tạo ra tác dụng hiệp đồng có lợi vì probiotic sẽ sử dụng prebiotic để sinh trưởng và phát triển. Điều này sẽ giúp nhanh chóng thiết lập một hệ vi sinh vật lành mạnh và hiệu quả trong đường ruột của thú. 
Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả.

Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam.